Má tôi rất thích làm mứt chuối xào gừng đậu phộng, mứt dừa ngào đường và bánh tét nhân mỡ hành. Những liếp tre phơi bánh mọc đầy các con đường làng, tiếng cối quết bánh thình thịch khá vui tai. Hầu như nhà nào ở quê tôi cũng có một cây mai lớn trước bàn ông thiên, với những đóa mai rực rỡ vào đêm giao thừa. Mọi nhà đều tận dụng những khoảng đất trống trồng một vài cây bông vạn thọ, cúc, hướng dương... để cúng trên bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Lối hai mươi Tết là tía má cùng anh em tôi đi làm cỏ, quét nước vôi, cúng vái tảo mộ ông bà.
Hồi ngoại tôi còn sống, đêm hai ba đưa ông táo về trời, lũ nhỏ chúng tôi thường xúm xít xung quanh nghe kể chuyện ông táo có hai bà vợ, về bẩm Ngọc Hoàng bằng cá chép rồi quay về đúng đêm ba mươi, đồ cúng phải có thèo lèo “ cứt chuột” và dưa hấu. Càng gần Tết thì công chuyện tất bật hơn, cha tôi thì chuẩn bị chặt trúc để làm cây nêu, lau chùi nhà cửa nhất là mấy cái bộ lư hương bằng đồng sáng choang, đi chợ về bao giờ cũng có mấy tờ giấy đỏ có in hình “ ông ba mươi ” ghi câu đối để dán trước cửa nhà trừ ma quỷ; chị tôi thì loay hoay để may đồ mới cho cả gia đình, chuẩn bị nồi thịt heo kho “ rịu ” ăn với dưa giá, rau sống. Chiều ba mươi Tết là anh em tôi đã đổ đầy lu gạo mới, các khạp, mái đều đầy nước sông lóng phèn, chị tôi còn cẩn thận đổ đầy các keo nước mắm, muối, đường, bột ngọt, nước màu.
Đêm ba mươi làng quê tôi không ngủ. Thường thì phụ nữ thức canh nồi bánh tét bên ánh lửa hồng, có nơi tụm năm tụm ba đánh bài tứ sắc; cánh đàn ông thì nhâm nhi ly rượu đế để “ tống cựu nghinh tân”, ngẫm nghĩ chuyện mần ăn, thế thái nhân tình năm vừa qua; trẻ con chúng tôi thì kéo nhau ra đầu làng để coi hát bội, chơi lô tô, bầu cua cá cọp, tài xỉu, đánh bài cào... có đứa liếng mắt đốt pháo “ tiểu” ném vào đám con gái rồi bỏ chạy với cái cười đắc chí.
Đã hơn bốn mươi năm qua, nhưng hưong vị Tết quê xưa cứ sống mãi trong tôi. Ở thị thành hiếm gặp cây “nêu” trước nhà, muốn có mai, cúc, đào chưng thì ra chợ Tết tha hồ mà lựa. Đâu còn những kẹo mứt chuối xào gừng, những cái bánh tráng, bánh phồng sữa nếp thơm lừng bởi bánh mứt làm sẵn quá dư thừa, đâu còn những đêm thức trắng để canh nồi bánh tét, quần áo thời trang “ mô đen” đủ kiểu, đủ giá nhan nhản, đâu cần phải ngồi đạp bàn máy may lách cách như chị tôi ngày xưa.
Không còn tiếng pháo nổ đì đùng ngày xuân, không còn thấy các lò bánh nhiều như trước.Thợ may miệt vườn hầu như thất nghiệp vì xu hướng mua đồ mới may sẵn vừa tiện, nhanh, giá rẻ lại nhiều mẫu mã. Thức ăn Tết, bánh mứt các loại, phụ nữ thời nay thôi không còn phải mất thời gian chế biến vì đã bán đầy ở các trung tâm thương mại, các chợ, siêu thị. 30 Tết dọn dẹp nhà cũng chẳng sao. Thời điểm mua đồ ăn, thức uống cũng không cần vội vã, có người đến chiều 29 tết mua vẫn kịp. Cây cảnh, mai, hồng, vạn thọ... và nhiều loại khác bán đầy ở bến xe, bến tàu, các đường phố trung tâm, các chợ quận, huyện, tha hồ chọn lựa.
Trưa 30 âm lịch bây giờ coi như chấm dứt việc mua sắm. Đường phố bắt đầu vắng, hàng quán dẹp dần, chỉ còn người lao động nghèo tranh thủ đi sắm Tết muộn. Chiều và đêm giao thừa, đàn ông thường ở nhà xem truyền hình, lai rai với bạn bè lối xóm, phụ nữ dọn dẹp nhà cửa, bếp núc, coi lại các món ăn, cúng kiếng giao thừa, trẻ con thì ra đường rong chơi, coi bắn pháo hoa, sau giao thừa mới về đến nhà.
Tết bây giờ thật đơn giản và hiện đại. Có người quên đi viếng ông bà, người thân, thầy cô ngày Tết. Trẻ con thì lên lịch đi dã ngoại với bạn bè suốt mấy ngày xuân. Người lớn có khi không biết làm gì để giết thời gian. Trên bàn thờ đã hiếm dần những dĩa thịt kho dưa giá truyền thống, những dĩa mứt chuối, mứt gừng, những phong bánh in giấy đỏ, giấy hồng, chai rượu đế để thay vào đó những thức ăn chế biến công nghiệp, những chai rượu ngoại đắt tiền.
Ngày xuân mênh mang cảm giác buồn man mác, tiếc nuối một thời chưa xa.
Theo Báo Đất Việt